http://www.VietShares.Good.To

Design by La Quang Tiến & Nguyễn Việt Anh
 
Trang ChínhPortalliGalleryTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýThành viênNhómĐăng Nhập

Share | 
 

 Avril Lavigne

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Lúa đại mạch

avatar

Tổng số bài gửi : 11
Age : 24
Location : some where in this world...where my love stays
Registration date : 27/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Avril Lavigne   2008-01-10, 19:00

Nếu là một người quan tâm đến âm nhạc thế giới,hẳn bạn ít nhiều gì cũng biết tới cô ca sĩ trẻ tuổi tài năng này.

Avril Ramona Lavigne (sinh ngày 27 tháng 9 năm 1984 tại Belleville, Ontario, Canada) là một ca sĩ nhạc rock người Canada.
Năm 2006, cô được tạp chí Canada Business bầu chọn là một trong những người Cananda nhiều quyền lực nhất tại Hollywood. Từ khi khởi nghiệp đến nay, cô đã bán được hơn 32 triệu đĩa hát trên toàn thế giới.
Mặc dù họ tên của cô có gốc tiếng Pháp nhưng Avril không hề nói bất kỳ một từ tiếng Pháp nào. Cái tên Avril Lavigne có nghĩa là “rượu vang tháng tư”.
Avril đã phát hành 3 album sudio: Let Go ( 2002 - bán được 18 triệu bản ), Under My Skin ( 2004 - bán được 12 triệu bản ) và mới nhất là The Best Damn Thing ( 2007 - 4,8 triệu bản ). Gần đây Avril được kênh truyền hình VH1 xếp vào Top 50 nghệ sĩ sản xuất video ấn tượng nhất.
Tóm tắt tiểu sử

Avril Ramona Lavigne (sinh ngày 27 tháng 9 năm 1984 tại Belleville, Ontario, Canada) là một ca sĩ nhạc rock người Canada.
Năm 2006, cô được tạp chí Canada Business bầu chọn là một trong những người Cananda nhiều quyền lực nhất tại Hollywood. Từ khi khởi nghiệp đến nay, cô đã bán được hơn 32 triệu đĩa hát trên toàn thế giới.
Mặc dù họ tên của cô có gốc tiếng Pháp nhưng Avril không hề nói bất kỳ một từ tiếng Pháp nào. Cái tên Avril Lavigne có nghĩa là “rượu vang tháng tư”.
Avril đã phát hành 3 album sudio: Let Go ( 2002 - bán được 18 triệu bản ), Under My Skin ( 2004 - bán được 12 triệu bản ) và mới nhất là The Best Damn Thing ( 2007 - 4,8 triệu bản ). Gần đây Avril được kênh truyền hình VH1 xếp vào Top 50 nghệ sĩ sản xuất video ấn tượng nhất.

Tóm tắt tiểu sử
Avril Ramona Lavigne Whibley là ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Canada từng giành 8 giải Juno. Cô được biết đến là một ca sĩ có phong cách trình diễn tinh vi và mạnh mẽ. Khán giả thế giới gần đây được chứng kiến hình ảnh một Avril nữ tính hơn và sâu sắc hơn. Ba album của cô là Let Go (2002), Under My Skin (2004) và The Best Damn Thing đứng đầu các bảng xếp hạng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Avril sinh ra tại Belleville, Ontario. Tài năng âm nhạc của cô sớm được phát hiện khi cô lên 2 tuổi. Năm 1998, Lavigne chiến thắng tại cuộc thi tuyển chọn người hát cùng ca sĩ Shania Twain trong chuyến lưu diễn của nữ nghệ sĩ này tại Canada. Avril xuất hiện trên sân khấu và chiếm được cảm tình của khán giả đồng thời lọt vào mắt của nhà quản lí chuyên nghiệp, ông Cliff Fabri, người là quản lí đầu tiên của cô.
Ở tuổi 16, cô đã được kí hợp đồng thu âm với Ken Krongard, đại diện của hãng ghi âm Arista Records. Hai tháng sau đó cô đã có tác phẩm âm nhạc đầu tay.

Âm nhạc

Album "Let Go" (2002-2004)


Sau khi nhận ra khả năng tiềm tàng của Avril, hãng Arista A&R bắt đầu tung mạng lưới tìm kiếm mở rộng, bắt tay với nhà sản xuất kiêm nhạc sĩ Curt Frasca và Sabelle Breer nhằm giúp giọng ca của cô tỏa sáng hơn nữa.
Ngày 4 tháng 6 Avril cho phát hành album đầu tay mang tên Let Go. Album này nhanh chóng chiếm giữ vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng ở Canada, Úc, Anh và vị trí thứ 2 trên Billboard Hot 200 album của Mỹ. Album này có 4 đĩa đơn rất thành công là: "Complicated", "Sk8er Boi", "I'm with you" và "Losing Grip". Lavigne miêu tả album Let Go như một khát khao của nhạc Rock. Một số bài hát trong đó có xu hướng Rock rõ rệt.
Những thành công từ album đầu tay đã mang lại cho Avril danh hiệu nữ nghệ sĩ trẻ tài năng nhất trong lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2002. Và danh hiệu album bán chạy nhất trong năm 2002 cho nữ nghệ sĩ. Album này cũng lọt vào Top 100 album bán chạy nhất mọi thời đại do website Mediatraffic.de thống kê.

Album "Under My Skin" (2004-2005)


Album thứ hai của Lavigne có tên Under My Skin phát hành ngày 25 tháng 5 năm 2004 tại Mỹ. Trong tuần đầu tiên, nhạc phẩm này đã bán được hơn 380.000 bản tại Hoa Kỳ, đứng đầu danh sách tại các nước như Anh, Đức, Nhật, Úc, Canada, Argentina, Tây Ban Nha, Ireland, Thái Lan, Hàn Quốc và Hong Kong. Hầu hết các ca khúc trong album này Avril Lavigne đều là đồng tác giả. Album này có 4 đĩa đơn khá thành công là: "Don't Tell Me", "My Happy Ending", "Nobody's Home" và "He Wasn't".
Với album này Avril đã giành 2 giải thưởng: Nghệ sĩ Pop/Rock xuất sắc nhất thế giới và Nghệ sĩ người Canada có album bán chạy nhất thế giới trong lễ trao giải World Music Awards 2005. Cô nhận được 5 đề cử giải Juno năm 2005 và giành được 3 giải trong đó có Lựa chọn của fan hâm mộ, Nghệ sĩ của năm và Album nhạc Pop của năm. Tính đến tháng 10 năm 2007, album này đã bán được hơn 12 triệu bản trên toàn cầu.
Năm 2006 Avril Lavigne đã đại diện cho Canada tham dự lễ bế mạc Thế vận hội mùa đông 2006 tại Torino.

Album "The Best Damn Thing" (2007 đến nay)


Avril quảng cáo cho The Best Damn Thing tại Hồng Kông



Ngày 17 tháng 4 năm 2007 Avril Lavigne đã phát hành album thứ 3 mang tên The Best Damn Thing. Trong tuần đầu tiên phát hành, album này đã bán được 784.000 bản tên toàn thế giới. Và đạt vị trí quán quân trên nhiều bảng xếp hạng album ở: Mĩ, Canada, Nhật Bản, Ý, Brazil... Album này đã có 4 single là "Girlfriend", "When You're Gone", "Hot" và "Keep Holding On". Trong đó "Girlfriend" là single thành công nhất.




Lavigne có mối quan hệ lãng mạn với tay guitar, Jesse Colburn, trong ban nhạc của mình. Cô coi anh là bạn trai đầu tiên trong cuộc đời. Sau khi chia tay, Colburn rời ban nhạc.
Tháng 2 năm 2004, cô bắt đầu hẹn hò với bạn đồng nghiệp, ca sĩ người Canada, Deryck Whibley, trong ban nhạc Sum 41. Whibley trở thành bạn trai thứ hai của cô. Tháng 6 năm 2005, họ đính hôn. Whibley bất ngờ cầu hôn Lavigne trong một chuyến đi sang Venezia. Hai người đã có một buổi dã ngoại lãng mạn sau đó.
Ngày 15 tháng 7 năm 2006, họ tổ chức một đám cưới đơn giản tại tư trang ở thành phố biển Montecito, California. Lavigne mặc chiếc váy cưới của Vera Wang và mang trên tay những bông hồng trắng. Whibley mặc trang phục của Hugo Boss và được hộ tống bởi 4 phù rể. Có khoảng 110 vị khách quý tham dự buổi lễ.

Các đĩa đơn đạt quán quân


NămĐĩa đơnBảng xếp hạngÚcCanadaÝTây Ban NhaChâu ÂuThế Giới
2002"Complicated"2112121
2003"Sk8er Boi"10398112
2003"I'm With You"4-1352191
2004"My Happy Ending"96117112
2007"Girlfriend"1111811
Tổng đĩa đơn đạt #112


Được sửa bởi ngày 2008-01-10, 19:03; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Lúa đại mạch

avatar

Tổng số bài gửi : 11
Age : 24
Location : some where in this world...where my love stays
Registration date : 27/12/2007

Bài gửiTiêu đề: Re: Avril Lavigne   2008-01-10, 19:01

Những giải thưởng Avril đã đạt được:

2002

  1. MTV VMA's : nghệ sĩ mới xuất sắc nhất (Complicated).
  2. MTV Latin America VMA's: nghệ sĩ mới xuất sắc.
  3. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.


2003

  1. ECHO Awards: nghệ sĩ mới xuất sắc
  2. Ivor Novello Awards: Ca khúc của năm (Complicated)
  3. Juno Awards: Album của năm (Let Go), album nhạc pop của năm (Let Go), nghệ sĩ mới, ca khúc của năm (Complicated)
  4. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
  5. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất, Nghệ sĩ có bước đột phá, giải phong cách.
  6. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Sk8er Boi), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
  7. Radio Music Awards: Ca khúc hay nhất (Complicated).
  8. TMF Awards: Nghệ sĩ rock xuất sắc.
  9. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.


2004

  1. Comet Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
  2. Common Sense Media Award: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
  3. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc.
  4. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
  5. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop/rock.


2005

  1. Juno Awards: Nghệ sĩ của năm, album nhạc pop hay nhất, sự lựa chọn của khán giả
  2. MTV Asia Awards: Nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
  3. NRJ Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.


2006

  1. Italian TRL Awards: First Lady


2007

  1. MTV Latin America VMA's: Nghệ sĩ nhạc pop xuất sắc, ca khúc của năm (Girlfriend)
  2. MTV Russian Music Awards: Nghệ sĩ quốc tế xuất sắc.
  3. MuchMusic Video Awards: Video xuất sắc, Sự lựa chọn của khán giả.
  4. Teen Choice Awards: Đĩa đơn được yêu thích nhất (Girlfriend).
  5. Nickelodeon Kids' Choice Awards: Ca khúc được yêu thích nhất (Girlfriend), nữ nghệ sĩ được yêu thích nhất.
  6. MTV Europe Music Awards: Nghệ sĩ của năm, Ca khúc yêu thích (Girlfriend).
  7. World Music Awards: Nghệ sĩ Canada xuất sắc và nghệ sĩ Pop

Năm 2002

  • Tháng 6:

    • Phát hành album đầu tay - Let Go

  • Tháng 7:

    • Let Go được trao tặng đĩa bạch kim
    • Complicated lên #1 tại Billboard Top 40 tracks trong 7 tuần

  • Tháng 8:

    • Complicated lên #1 tại Billboard Adult Top 40 chart trong 16 tuần
    • Complicated lên #1 tại Canada
    • Sk8erboi bắt đầu xuất hiện trên các chart
    • Avril tháng giải Best New Artist tại VMA với video Compliacted và biểu diễn lúc mở màn buổi lễ trao gỉai
    • Let Go được trao tặng đĩa bạch kim thứ 2

  • Tháng 9:

    • Let Go nhận được đĩa bạch kim thứ 3
    • Let Go lên #1 tại LP chart ở Canada
    • Bài hát "Falling Down" của Avril được chọn làm soundtrack cho bộ phim Sweet Home Alabama

  • Tháng 10:

    • Sk8erboi bắt đầu tấn công mạnh trân các chart
    • Avril thắng giải Best New Artist, international tại MTV Video Music Award Latin America

  • Tháng 11:

    • I'm With You bắt đầu có mặt trên các bảng xếp hạng

  • Tháng 12:

    • Let Go được trao tặng đĩa bạch kim thứ 4
    • I'm With You bắt đầu bon chen lên những vị trí cao trong 1 số bảng xếp hãng

  • Let Go kết thúc 1 năm đầy vinh quang khi đứng #3 trong bảng xếp hạng biggest selling LP of the year với hơn 4,1 triệu dĩa được bán tại Mỹ

    • Đọc giả của tạp chí Rolling Stone đã bầu chọn Avril là Best Female Performer and Best New Artist.




Năm 2003



  • Tháng 1:

    • Avril dẫn đầu bảng xếp hạng LP của UK trong 3 tuần
    • Let Go nhận đĩa bạch kim thứ 5
    • Avril biểu diễn tại chương trình Saturday Night Live
    • Avril thắng 3 giải tại MTV Asia Awards

  • Tháng 2:

    • I'm With You thật sự tấn công mạnh trên các chart
    • Avril được đề cử 5 giải cho Grammy 2003 bao gồm Song of the Year, Best Female Pop Vocal Performance ("Complicated"), Best Pop Vocal Album (Let Go), Best Rock Vocal Performance - Female ("Sk8er Boi"), và Best New Artist. Avril cũng đã biểu diễn tại lễ trao giải.
    • I'm With You lên #1 tại Billboard Adult Top 40 trong 10 tuần

  • Tháng 3:

  • Tháng 4:

    • Losing Grip bắt đầu xuất hiện trên các chart
    • Avril thắng 4 giải tại June Awards gồm Single of the Year ("Complicated"), Album of the Year, Pop Album of the Year (Let Go), New Artist of the Year và được đề cử ờ 2 hạng mục khác
    • Avril bắt đầu tour diễn đầu tiên của mình ở Montreal
    • Avril thắng giải Favorite Song ("Sk8er Boi") tại Nickelodeon Kids' Choice Award
    • Let Go được trao đĩa bạch kim thứ 6

  • Tháng 5:

    • Losing Grip lọt vào Top 10 1 vài chart

  • Tháng 6:

    • Avril thắng 2 giải Best International Video by a Canadian ("Sk8er Boi") và People Choice Award for Favorite Canadian Artist tại Much Music Awards

  • Tháng 7:

    • "I Dont Give" của Avril được chọn làm soundtrack cho bộ phim American Wedding

  • Tháng 8:

    • I'm With You được đề cử 2 giải Best Female Video và Best Pop Video tại VMA

  • Tháng 10:

    • Avril chiến thắng tại World Music Award cho giải thưởng Best Canadian Pop/Rock Artist.
    • Avril chiến thắng tại Radio Music Awards với giải thưởng Song of the Year - Modern Adult Contemporary Radio ("Complicated").

  • Tháng 11:

    • Avril được đề cử cho giải Favorite Pop/Rock Female Artist tại AMAs
    • Phát hành DVD My World




Năm 2004



  • Tháng 2:

    • Avril được đề cử 3 giải tại Grammy bao gồm Best Female Pop Vocal Performance, Song of the Year (songwriter) ("I'm With You" with The Matrix), and Best Rock Vocal Performance - Female ("Losing Grip").

  • Tháng 4:

    • Don't Tell Me bắt đầu có mặt trong các bảng xếp hạng

  • Tháng 5:

    • Don't Tell Me bắt đầu leo cao lên các bảng xếp hạng
    • Avril biểu diễn tại Saturday Night Live
    • Avril phát hàng album thứ 2 Under My Skin

  • Tháng 6:

    • Under My Skin debut ngay tại vị trí số 1 trên Billboard Top 200
    • Albums và bán được 381,000 bản tại Mỹ trong tuần phát hành đầu tiên
    • Under My Skin cũng giữ ngôi vị quán quân tại UK và Canada

  • Tháng 7:

    • My Happy Ending bắt đầu đặt những bước chân đầu tiên lên các bảng xếp hạng
    • "Knocking On Heaven's Door" của Avril được chọn vào LP Unity - Thế vận hội năm 2004 tại Athens
    • Under My Skin được trao tặng đĩa bạch kim

  • Tháng 8:

    • "I Always Get What I Want" được chọn làm soundtrack cho bộ phim The Princess Diaries 2: Royal Engagement
    • My Happy Ending bắt đầu tạo nên 1 làng sóng trên các chart
    • "Don't Tell Me" được đề cử cho giải Best Pop video tại VMAs

  • Tháng 9:

    • Avril 1 lần nữa chiến thắng tại World Music Award cho giải Best Pop/Rock Artist

  • Tháng 10:

    • My Happy ending lên #1 13 tuần tại Đài Loan và #1 trên Billboard Mainstream Top 40 cùng #1 một số chart khác
    • Single "Don't Tell Me" được trao đĩa vàng tại Mỹ
    • Nobody's Home bắt đầu xuất hiện thay thế cho My Happy Ending trong các chart

  • Tháng 11:

    • Avril được đề cử giải Favorite Pop/Rock Female Artist tại AMAs.
    • Under My Skin được trao tặng đĩa bạch kim thứ 2
    • Single My Happy Ending được hiệp hội RIIA (Mỹ) trao tặng đĩa vàng

  • Tháng 12:

    • Nobody's Home bắt đầu có tên trên nhiều chart




Năm 2005



  • Tháng 1:

    • "My Happy Ending" được trao tặng đĩa bạch kim

  • Tháng 2:

    • "He Wasn't" bắt đầu xuất hiện

  • Tháng 3:

    • Nobody's Home được trao tặng đĩa vàng

  • Tháng 4:

    • Avril giành 1 giải tại Kid's Choice Award cho danh hiệu Favorite Female Singer

  • Tháng 5:

    • "He Wasn't" lên #1 tại Canada
    • "Fall To Pieces" có mặt trên 1 vài charts nhỏ ở Mỹ

  • Tháng 6:

    • Avril đính hôn với Deryck Whibley của Sum 41

  • Tháng

    • "Fall to Pieces" lọt vào World Adult Top 20 và Top 20 của Billboard Adul




Năm 2006 đến nay



  • Tháng 4: Ngày 17 tháng 4: phát hành album thứ 3, The Best Damn Thing.Đây là một album nhạc rất sôi động, dễ nghe với nhiều ca khúc do chính Avril sáng tác. Mặc dù không được giới phê bình âm nhạc đánh giá cao như 2 album trước nhưng album này vẫn rất thành công về số lượng đĩa bán ra. Đạt vị trí quán quân ở nhiều chart trên thế giới như: Mí, Canada, Anh, Nhật Bản...
  • Tháng 5: Ngày mùng 5, đĩa đơn đầu tiên Girlfriend đạt vị trí quán quân tại Mĩ. Girlfriend trở thành single thành công nhất của Avril từ trước đến nay khi đạt được nhiều vị trí cao ở khắp các bảng xếp hạng âm nhạc danh tiếng trên thế giới ( No.1 tại: Australia, Austria, Bulgaria, Canada, France, Italy, Ireland, Netherlands, New Zealand, Sweden, U.S., United World Chart....) và được MTV Asia bình chọn là Artist of The Month
  • Tháng 7:Phát hành single thứ 2 là When You're Gone tại .Đây là một single khá thành công của Avril, single này đã đạt được vị trí quán quân trên một số chart ở: Singapo, Malaysia, Trung Quốc,vị trí thứ 6 tại United World Chart...Ca khúc When You're Gone cũng rất thành công trên sóng phát thanh của Việt Nam khi nhiều ngày liên tục chiếm giữ vị trí đầu bảng của Hot ten at ten. Đáng tiếc là single này chỉ đứng ở vị trí 24 tại Billboard hot 100 của .
  • Tháng 10: Phát hành single thứ 3 mang tên Hot.
  • Tháng 11: Avril thắng lớn trong lế trao giải MTV Châu Âu 2007 khi giành được 2 giải quan trọng là nghệ sĩ solo xuất sắc và ca khúc hay nhất (Girlfriend)



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Avril Lavigne
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
http://www.VietShares.Good.To :: Music Zone :: Nhạc nước ngoài :: Nhạc English-
Chuyển đến